HỘI CHỨNG “COVID-19 KÉO DÀI” Ở TRẺ EM - 7 ĐIỂM KHÁC BIỆT GIỮA CÁC GIẢI PHÁP CẢI THIỆN HỘI CHỨNG TIỀN MÃN KINH - DẬY SỚM GIẢM NGUY CƠ TRẦM CẢM

Hội chứng “COVID-19 kéo dài” ở trẻ em


Bạn đang xem: Hội chứng “COVID-19 kéo dài” ở trẻ em - 7 điểm khác biệt giữa các giải pháp cải thiện hội chứng tiền mãn kinh - Dậy sớm giảm nguy cơ trầm cảm

Sức Khỏe - Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra trẻ em là nhóm đối tượng ít nhạy cảm hơn với hội chứng hô hấp cấp tính nặng SARS-CoV-2 cả về số lượng ca nhiễm và mức độ nghiêm trọng. Tuy nhiên, một số trẻ nhập viện đã phát triển bệnh nặng cũng như phát triển một loạt các biến chứng hoặc di chứng lâu dài.


Trẻ em cũng có triệu chứng COVID-19 kéo dài


Trong số trẻ em nhập viện với COVID-19, một trong ba bệnh nhân sẽ phải chăm sóc đặc biệt (ICU). Nhiều trẻ trong số này sẽ cần hỗ trợ hô hấp và một số sẽ có dấu hiệu suy ở một hoặc nhiều cơ quan. Một biến chứng đặc biệt của COVID-19 ở trẻ là hội chứng viêm đa hệ (MIS-C), thường thấy vài tuần ở trẻ sau giai đoạn cấp tính.





1/4 trẻ xuất hiện các triệu chứng COVID-19 kéo dài.Hội chứng viêm này bao gồm nhiều triệu chứng như sốt, đau bụng kèm theo nôn và/hoặc tiêu chảy, phát ban, các vấn đề về tim mạch và thần kinh. Nếu được chẩn đoán sớm, hội chứng này có thể dễ dàng điều trị bằng các thuốc ức chế miễn dịch như steroids, nếu không có thể dẫn đến tử vong.Nghiên cứu bao gồm 520 trẻ em, với độ tuổi trung bình là 10 tuổi. Trẻ em trai và trẻ em gái đều có tỷ lệ ngang nhau. Quá trình theo dõi tiếp tục kéo dài trung bình gần 9 tháng. Trong số những đứa trẻ này, hơn một nửa không có bệnh cơ bản. Những trẻ còn lại (45%) thì có đến 13% trẻ bị dị ứng thức ăn; 10% bị viêm mũi dị ứng; 10% bị hen suyễn, còn lại là có vấn đề về đường tiêu hóa, bệnh chàm và các vấn đề về thần kinh. Trong khi 37% bị viêm phổi khi nhập viện, dưới 3% có vấn đề về hô hấp nghiêm trọng cần trợ thở hoặc nhập viện chăm sóc đặc biệt (ICU).Nghiên cứu cho thấy gần một trong bốn trẻ em vẫn còn triệu chứng thậm chí vài tháng sau khi nhập viện. Mệt mỏi có ở 16% trẻ em khi xuất viện, nhưng giảm dần theo thời gian. Tương tự, mất vị giác được báo cáo ở 9%, rối loạn chức năng ở 6%, và khó thở ở 4% số trẻ. Các triệu chứng này giảm tần suất theo thời gian, lần lượt là 5%, 4% và 1%. Mất ngủ kéo dài ở mức tương tự (7,5%), cũng như đau đầu (4,5%) và rụng tóc (4%), trong 6-7 tháng.Triệu chứng phổ biến nhất được báo cáo vào cuối thời gian theo dõi là mệt mỏi, sau đó là rối loạn giấc ngủ, thiếu máu và đau đầu. Mệt mỏi xuất hiện ở một phần mười của nhóm thuần tập, trong khi những trẻ khác được báo cáo ở 3-5%. Các triệu chứng liên quan đến thần kinh, tim mạch, hô hấp và những triệu chứng liên quan đến cơ và khung xương, từng được báo cáo ở 2-3% trẻ em. Khoảng 1/10 có hơn một triệu chứng vẫn tồn tại vào cuối thời gian theo dõi.





Mệt mỏi là triệu chứng COVID-19 kéo dài phổ biến ở trẻ sau khi xuất viện.Các triệu chứng phổ biến nhất xảy ra cùng nhau bao gồm mệt mỏi và rối loạn giấc ngủ, trong 2%. Gần như cùng một con số có biểu hiện mệt mỏi với các thiếu hụt về giác quan. Khoảng 3% có các triệu chứng dai dẳng của hơn hai loại khác nhau.Những thay đổi về cảm xúc và hành vi được báo cáo do căn bệnh này là giảm ăn, ngủ ít hơn hoặc nhiều hơn, tăng hoạt động và suy giảm cảm xúc ở khoảng 5% trẻ em bị ảnh hưởng. Mệt mỏi, mất ngủ và các vấn đề về cảm giác là những triệu chứng dai dẳng được báo cáo nhiều nhất.

Cần theo dõi sức khỏe của trẻ lâu dài sau khi xuất viện


Nghiên cứu hiện tại là nghiên cứu thuần tập lớn nhất về những trẻ em đã phải nhập viện do COVID-19 cấp tính, cho thấy rằng trẻ em có các triệu chứng dai dẳng có sức khỏe yếu hơn so với trước khi chúng bị nhiễm trùng. Một phần mười trẻ em có từ hai triệu chứng dai dẳng trở lên, với những trẻ lớn hơn có nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Mặc dù tỷ lệ phổ biến giảm dần của hầu hết các triệu chứng được báo cáo khi nhập viện, nhưng một số ít không cho thấy tình trạng sức khỏe trở lại bình thường hoàn toàn. Các nhà nghiên cứu cũng đề xuất lý do đau đầu và mất ngủ có thể là do tâm lý.Thời gian của các triệu chứng COVID-19 kéo dài nên được xem xét trong tất cả các nghiên cứu, để đánh giá tầm quan trọng của chúng và nhu cầu can thiệp tại thời điểm theo dõi. Việc xác định các yếu tố nguy cơ cụ thể cần được nghiên cứu sâu hơn để phát triển các hướng dẫn can thiệp, để tối ưu hóa kết quả điều trị. Hơn nữa, với kết quả này càng nhấn mạnh sự cần thiết phải theo dõi sức khỏe lâu dài ở những trẻ này sau khi xuất viện.







7 điểm khác biệt giữa các giải pháp cải thiện hội chứng tiền mãn kinh


Xem thêm: Tin Nhắn Chúc Buổi Sáng Hài Hước, Những Câu Chúc Buổi Sáng Hài Hước, Vui Nhộn

Sức Khỏe - Phụ nữ bước vào giai đoạn tiền mãn kinh sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề sức khỏe: Sụt giảm nội tiết tố estrogen dẫn đến những cơn bốc hỏa, nóng bừng, rối loạn chu kỳ kinh nguyệt, thay đổi cảm xúc, rối loạn giấc ngủ… và tăng nguy cơ mắc một số bệnh lý như loãng xương, béo phì, tiểu đường, rối loạn mỡ máu...


Giai đoạn tiền mãn kinh kéo dài trung bình 4 năm. Nhưng tùy cơ địa, thời gian có thể rút ngắn từ vài tháng tới một năm, hoặc có khi kéo dài tới 10 năm. Dù thời gian ngắn hay dài, thì những thay đổi về sinh lý, sức khỏe cũng làm suy giảm chất lượng cuộc sống của phụ nữ giai đoạn này.Ngoài việc thay đổi lối sống lành mạnh, những giải pháp khắc phục hội chứng tiền mãn kinh được biết đến hiện nay bao gồm: Liệu pháp hormone, bổ sung phytoestrogen – hormone thực vật thay thế như isoflavon, hoặc thảo dược có tác dụng giảm các triệu chứng tiền mãn kinh.

Liệu pháp hormone





Liệu pháp hormon


Liệu pháp hormone bao gồm estrogen, progestogen hoặc phối hợp cả hai. Đây được cho là cách điều trị hiệu quả nhất các triệu chứng tiền mãn kinh. Liệu pháp hormone giúp giảm nhẹ các cơn bốc hỏa từ vừa đến nặng. Nếu có estrogen sẽ giảm cả các triệu chứng do teo âm hộ và âm đạo. Estrogen có tác dụng tốt với mật độ xương, giảm tỉ lệ gãy xương ở phụ nữ tiền mãn kinh (không có loãng xương trước đó).Bên cạnh những tác dụng tích cực, liệu pháp hormone cũng tồn tại những rủi ro cần được cân nhắc khi sử dụng. Rủi ro với estrogen hoặc phối hợp estrogen/progestogen: Ung thư niêm mạc tử cung, ung thư vú, huyết khối tĩnh mạch sâu, thuyên tắc phổi, đột quỵ, tiểu không tự chủ…Nguy cơ ung thư tăng lên sau 3 – 5 năm điều trị hormone phối hợp, hoặc sau 7 năm nếu điều trị riêng estrogen. Những rủi ro này rất thấp ở những phụ nữ khỏe mạnh sử dụng liệu pháp hormone trong thời gian ngắn. Ngoài ra progestogen cũng có thể gây các tác dụng phụ như chướng bụng, đau đầu, căng vú, tăng LDL cholesterol.Liệu pháp hormone có thể sử dụng dạng đường uống, qua da (miếng dán, kem dưỡng da, dạng xịt, gel bôi), hoặc đặt âm đạo. Liều điều trị phụ thuộc độ tuổi, thời gian mãn kinh của người phụ nữ. Do đó liệu pháp hormone cần được các bác sĩ lâm sàng thăm khám và chỉ định, cân nhắc giữa lợi ích và rủi ro của liệu pháp mang lại.

Liệu pháp hormone thực vật





Hormon thực vật


Một trong những hormone thực vật phổ biến nhất là isoflavon. Isoflavon gồm một nhóm chất có tác dụng tương tự estrogen yếu trong cơ thể. Thành phần chính của isoflavon là genistein và daidzein. Daidzein chuyển hóa tại ruột thành equol có hoạt tính estrogen mạnh gấp 5 lần chất mẹ daidzein và gấp 2 lần hoạt tính của genistein.Nếu như estrogen gắn chủ yếu vào thụ thể α-estrogen có mặt tại tử cung, buồng trứng và tuyến vú, thì genistein và chất chuyển hóa equol của daidzein lại có ái lực thụ thể β-estrogen tại thành mạch máu, não, bàng quan niệu đạo, niêm mạc ruột, phổi và xương. Chính sự khác biệt này khiến isoflavon có tác dụng với các triệu chứng tiền mãn kinh mà không gặp phải nguy cơ rủi ro như liệu pháp bổ sung estrogen.Isoflavon có trong các loài đậu thuộc họ Fabaceae như đậu xanh, đậu nành/ đậu tương, đậu phộng… Trong đó đậu nành là nguồn isoflavon quan trọng. Trong 1g đậu nành chứa khoảng 1.5mg isoflavon. Hàm lượng isoflavon cao nhất đến từ các nguồn đậu nành chưa qua chế biến như đậu edamame, sữa đậu nành…Rất nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả của isoflavon trên các triệu chứng tiền mãn kinh: Giảm từ 10-20% tần suất, mức độ nghiêm trọng các cơn bốc hỏa; giảm LDL cholesterol là tác nhân chính gây ra bệnh xơ vữa mạch, bệnh mạch vành; giảm các yếu tố của quá trình hủy xương, giảm mất khối lượng xương, ngăn ngừa gãy xương, loãng xương; cải thiện việc kiểm soát đường huyết và giảm cân ở phụ nữ tiễn mãn kinh, mãn kinh.Khi chuyển sang giai đoạn mãn kinh, tiếp tục sử dụng isoflavon kéo dài giúp cải thiện trí nhớ thị giác (Henderson & cộng sự, 2012). Bổ sung 150mg isoflavon hàng ngày trong 5 năm cho thấy tỉ lệ tăng sản nội mạc tử cung cao hơn 4% so với nhóm chứng, nhưng không phát hiện trường hợp ác tính nào (Unfer & cộng sự, 2004). Ngoài ra cũng phải kể đến hiệu quả của isoflavon trong việc hạn chế mất khối lượng xương tăng nhanh trong 5 – 10 năm đầu giai đoạn mãn kinh.Tuy nhiên, cần thận trọng khi bổ sung isoflavon trong những trường hợp: Bệnh nhân hen có nguy cơ dị ứng cao hơn với đậu nành; bệnh nhân suy giáp cần bổ sung đầy đủ i-ốt và theo dõi chặt chẽ khi bổ sung isoflavon; isoflavon liều cao có thể gây ngộ độc trên bệnh nhân suy thận, tăng khả năng hình thành sỏi thận; isoflavon tương tác bất lợi với một số thuốc: Thuốc chống trầm cảm IMAOs, thuốc chống đông máu, tamoxifen trong điều trị ung thư…

Liệu pháp thảo dược





Thảo dược


Một trong những thảo dược được khá nhiều phụ nữ tiền mãn kinh sử dụng gần đây là tinh dầu hoa anh thảo. Đây là tinh dầu chiết xuất từ hạt của cây hoa anh thảo (Evening Primrose Oil viết tắt là EPO). Thành phần chính của EPO là axit béo omega-6, chiếm 74% là axit linoleic và 9% là axit g-linoleic (GLA).Các axit béo trong tinh dầu hoa anh thảo là axit béo thiết yếu cơ thể không tự tổng hợp được, phải bổ sung qua chế độ ăn hoặc thực phẩm bổ sung. Các axit này là tiền chất của các hợp chất tạo ra các eicosanoid chống viêm như prostaglandin loại 1.Bên cạnh đó, quá trình chuyển đổi từ axit linoleic thành axit arachidonic (AA) có thể tạo ra hợp chất chống viêm prostaglandin loại 2 và leukotrienes loại 4. Nhờ đó EPO tác dụng hiệu quả trên các vấn đề do viêm gây ra trong giai đoạn tiền mãn kinh.Ngoài ra axit linoleic là một trong những thành phần chính của ceramides xây dựng lớp lipid dưới da. Sự hiện diện của axit linoleic ngăn ngừa da bị bong chóc và mất nước, điều chỉnh quá trình sừng hóa biểu bì, cải thiện độ mềm mại của da.Theo viện Y tế quốc gia Hoa Kỳ (NIH), chưa có đủ bằng chứng chắc chắn cho thấy tinh dầu hoa anh thảo có hiệu quả đối với các vấn đề bệnh lý hay các triệu chứng tiền mãn kinh. Tuy nhiên, một số nghiên cứu quy mô nhỏ được thực hiện cho thấy EPO giúp giảm mức độ trầm trọng các cơn bốc hỏa, nhưng không có sự khác biệt về tần suất cơn bốc hỏa so với nhóm chứng (Farzaneh & cộng sự, 2013).Khi bổ sung với liều thích hợp, tinh dầu hoa anh thảo được biết khá an toàn và dung nạp tốt. Những tác dụng phụ thường gặp nhất trên đường tiêu hóa là đau bụng, đầy hơi hoặc buồn nôn.Trên những bệnh nhân bị động kinh, tâm thần phân liệt, sử dụng EPO làm tăng nguy cơ cơn co giật. Ngoài ra tinh dầu hoa anh thảo làm tăng nguy cơ chảy máu khi dùng cùng các thuốc chống đông máu.Tóm tắt đặc điểm, cơ chế, tác dụng và thận trọng của các liệu pháp cải thiện hội chứng tiền mãn kinh





Mỗi giải pháp đều có những ưu và nhược điểm. Tuy nhiên mỗi con người là một cá thể riêng biệt, có những đáp ứng với mỗi vấn đề khác nhau. Do đó việc quan trọng là cần thăm khám sức khỏe định kỳ, tham khảo ý kiến của bác sĩ, dược sĩ trước khi tự ý quyết định sử dụng bất cứ sản phẩm thuốc hay thực phẩm chức năng nào. Điều đó trước tiên đảm bảo an toàn cho chính bạn, và sau đó sẽ giúp cho hiệu quả điều trị được tối ưu.




Dậy sớm giảm nguy cơ trầm cảm


Sức Khỏe - Theo một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí JAMA Psychiatry, thức dậy sớm hơn một giờ vào mỗi buổi sáng có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh trầm cảm.


Các nhà khoa học tại Đại học Harvard, Hoa Kỳ đã tìm kiếm dữ liệu di truyền và y tế, cũng như thói quen ngủ đêm của gần 840.000 người. Trong khi một số người tham gia làm bài trắc nghiệm về sở thích ngủ của họ, thì những người khác được cung cấp công cụ theo dõi giấc ngủ trong bảy ngày.Kết quả là, những người dậy sớm ít bị rối loạn trầm cảm nghiêm trọng hơn so với những người dậy muộn hơn, mặc dù thời lượng ngủ như nhau. Thức dậy sớm hơn một giờ có thể giảm nguy cơ trầm cảm 23%. Nếu ta rời khỏi giường sớm hơn hai giờ, khả năng bị trầm cảm sẽ giảm gần một nửa (40%).





Dậy sớm giúp giảm nguy cơ mắc bệnh trầm cảm.Ông Iyas Daghlas, một trong những tác giả của nghiên cứu giải thích: "Ở đây, ánh sáng có thể đóng một vai trò quyết định. Theo một số giả thuyết, những người dậy sớm sẽ được hưởng lợi từ việc tiếp xúc nhiều hơn với ánh sáng trong một ngày. Việc tiếp xúc này sẽ có tác động tới hormon và có thể ảnh hưởng tích cực đến tâm trạng".Việc dậy sớm có khá nhiều lợi ích. Một số nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu tâm lý học ở Hoa Kỳ, châu Âu và Canada đã chỉ ra rằng, những người có thói quen dậy sớm vào buổi sáng thường vui vẻ, lanh lợi, lạc quan, chu đáo và ít bị trầm cảm hơn.Nếu bạn cảm thấy muốn thức dậy vào lúc bình minh, tốt nhất là không nên thay đổi thời gian thức dậy quá đột ngột. Nên tập dậy sớm hơn khoảng mười lăm phút mỗi sáng để không làm rối loạn quá trình trao đổi chất, đồng thời không quên thay đổi giờ đi ngủ cho phù hợp.


Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

x

Welcome Back!

Login to your account below

Retrieve your password

Please enter your username or email address to reset your password.